秘封活動記録第二話-祝- || 京都幻想剧团

秘封活動記録第二話-祝- || Hifuu Katsudou Kiroku Dainiwa -Iwai-
Hifuu Club Activity Record ~ The Sealed Esoteric History -Celebration-
Ghi chép Hoạt động của Câu lạc bộ Phong ấn Bí mật ~ Lịch sử bí truyền bị phong ấn -Chúc tụng-
Circle: 京都幻想剧团 (Kyoto Fantasy Troupe)
The Cast:
Usami Renko – Kitamura Eri
Maribel Hearn – Hanazawa Kana
Kochiya Yayoi – Nadzuka Kaori
Kochiya Sanae – Touyama Nao
Yasaka Kanako – Tanaka Atsuko
Moriya Suwako – Iguchi Yuka
Hakurei Reimu – Imai Asami
Kirisame Marisa – Asumi Kana
Kochiya Masayuki – Hirabayashi Tadashi
Priests – Ogura Naohiro, Takano Tomoya
Old lady – Yamada Kinoko
Villagers – Gouda Shinjirou, Ogura Naohiro, Itou Asuka, Hirabayashi Tadashi, Takahashi Haruka, Takano Tomoya
University Professor – Gouda Shinjirou
Man – Takano Tomoya
Women – Yoshida Sachiyo
Source: 東方風神録 ~ Mountain of Faith
(Touhou Fuujinroku ~ Mountain of Faith)
Event: Comiket 92
English Translation: Celeste Melancholia

The contents in the episode are detailed. Choosing someone else’s perspective to tell the Great Suwa War and the origins of the Moriya Shrine is creative for me. I’m sure that there were a lot of researches were put into this episode.
And yes please, prepare some tissues. Because 風の唄 from RD and beautiful illustrations from Hanada Hyou will somehow make you cry (and have goosebumps). The song really reminds me of かぜなきし . It’s very emotional. *finger crossed for the lyrics*.

I have tried my best to correct the English translation. If you still find something wrong in grammar and vocabulary, don’t hesistate to let me know.

References:

  1. Mishaguji [link]
  2. Suwa Shrine [link]
  3. Takeminakata [link]
  4. Takemikazuchi [link]
  5. The Great Suwa War [link]

OLD LADY: Uhm… Are you Lady Sanae?
Cho hỏi.…Là Cô Sanae phải không ạ?

OLD LADY: : Ah…
Ôi…

OLD LADY: You finally came back, Lady Sanae…
Cuối cùng cô cũng về rồi, cô Sanae…

VILLAGER: I-It’s Lady Sanae!
L-Là cô Sanae!

VILLAGER: Lady Sanae!
Cô Sanae!

VILLAGER: What? Lady Sanae is back?
Sao cơ? Cô Sanae đã về rồi ư?

VILLAGER: Lady Sanae is back!
Cô Sanae về rồi!

VILLAGER: Ah! It must be God’s blessing!
Ôi! Chắc chắn đây là quà của Thần linh rồi!

VILLAGER: Lady Sanae! We have been waiting forever for your return!
Cô Sanae! Chúng tôi đã chờ mãi ngày cô quay trở về đó!

VILLAGER: Lady Sanae… It’s Lady Sanae!
Cô Sanae… Đúng là cô Sanae rồi!

YAYOI: Eh… Well…
À thì…

YAYOI: Uhm…
À…

YAYOI: Yes! I’m back home now!
Phải! Tôi đã về. Tôi đã trở lại rồi đây.

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

RENKO: Though it’s the age of science
Tuy là thời đại của khoa học,

RENKO: Places like such are still left behind…
Những nơi thế này vẫn còn khá cũ nhỉ…

MERRY: Yeah…
Phải rồi ha…

MERRY: Although Renko’s homeland Tokyo had become quite old-fashioned
Dù cho quê nhà của Renko là Tokyo đã trở nên xưa cũ đi nữa,

MERRY: It’s surprisingly somewhat more than that…
Thì điều này còn bất ngờ hơn nữa đó…

RENKO: You’re mean, Merry!
Merry quá ư là xấu tính luôn đó!

RENKO: Tokyo is retro!
Tokyo là quá khứ rồi!

RENKO: Retro!
Quá khứ cả rồi!

MERRY: Uhm
Ừm.

RENKO: Do you find any gaps of the boundaries?
Cậu tìm thấy lỗ hỏng ranh giới nào chưa?

MERRY: No, but…
Vẫn chưa, nhưng mà…

MERRY: But?
Nhưng?

MERRY: Didn’t the atmosphere of the buildings here…
Hình như không khí của những tòa kiến trúc đây…

MERRY: Is somewhat similar of those…
Cũng khá giống với những ngôi nhà…

MERRY: Within my dreams…?
Mà tớ thấy trong mơ thì phải…?

MERRY: Uhm… Renko!
Hửm… Renko!

MERRY: Geez!
Thật tình!

RENKO: Uhm?
Ơ…

RENKO: Look at that Merry!
Nhìn đi kìa Merry!

RENKO: We’re at here now. We’ll arrive there once turn around at the next corner!
Chúng ta đang ở đây rồi. Sau khi rẽ ở góc này nữa thì chúng ta đã đến nơi rồi!

MERRY: Uhm!
Ừm!

MERRY: Who’ll be living in here?
Ai đang sống ở đây nhỉ?

MERRY: We haven’t got the slightest idea of when this old book is written at…
Chúng ta không có chút manh mối nào về thời điểm quyển sách này được ghi chép cả…

MERRY: Perhaps this was written long ago.
Có lẽ, nó đã từ lâu lắm rồi.

RENKO: Since we’d come up to here, there’s no point in worrying about anything!
Vì chúng ta đã đến được đây rồi, có lo lắng đi nữa thì cũng vô ích thôi!

RENKO: Whatever happens, it’ll be it!
Chuyện gì xảy ra thì sẽ xảy ra thôi!

RENKO: Come!
Nào!

MERRY: Uhm!
Ừm!

MERRY:: This is… Moriya Shrine?
Đây là… Thủ Thỉ Thần Xã?

RENKO: Hey!
Này!!

MERRY: Such an old wooden building…
Quả là một tòa kiến trúc bằng gỗ cũ kĩ…

MERRY: It’s uncommon to see them in Tokyo nowadays…
Thật hiếm khi thấy chúng ở Tokyo ngày nay…

RENKO: Feels like it’s even older than the buildings we’d passed by a while ago
Có vẻ như nơi này còn cũ hơn chỗ hồi này mà tụi mình đi ngang qua lúc trước nữa.

RENKO: That’s a pretty wide garden…
Vườn tược rộng lớn thật…

RENKO: Seems like this side of the garden is a museum while the other is a house
Cứ như phía bên kia của khu vườn là một khu bảo tàng, còn lại là một căn nhà ở vậy.

MERRY: “Open the door.”
“Mở cửa ra.”

MERRY: Though “even until now, this place functions as a museum”…
Dù ghi là “Đến bây giờ, nơi này hoạt động như một bảo tàng”…

MERRY: But, what if it shuts down…
Mà, nếu như bị đóng cửa thì sao…

RENKO: You’ll never know if you don’t come in!
Cậu sẽ không bao giờ biết nếu như cậu không bước chân vào!

RENKO: Let’s go! Merry!
Đi thôi nào, Merry!

MERRY: Kya!
Ối!

MERRY: Don’t suddenly pull my arm, geez!
Đừng có bất ngờ kéo tay tớ thế chứ, cậu thật là!

MERRY: There’s a small shrine here.
Ở đây có một ngôi đền nhỏ.

MERRY: Sometime long ago, I heard that it was a basic courtesy to give 5 yen as an offering.
Trước đây rất lâu, tớ nghe nói quyên góp 5 yên cho đền như là một phép lịch sự cơ bản ở đây.

MERRY: 10 yen is unacceptable.
Đồng 10 yên thì không được chấp nhận.

RENKO: Because it sounds like a ‘connection’?
Vì nghe nó giống như một ‘liên kết’ nhỉ?

RENKO: Nobody’s gonna follow these rules for their whole life sincerely.
Không có ai sẽ theo điều này đến hết cuộc đời của họ đâu.

RENKO: Since things like having a trusting entreaty to deities can’t be overdone now in this world.
Vì những thứ như thờ phụng thần linh cũng khó thực hiện ở thế giới hiện đại lắm.

MERRY: Is that so?
Vậy sao?

RENKO: Can you feel the gaps of the boundaries of something?
Cậu có cảm nhận được lỗ hỏng ranh giới hay gì đó không?

RENKO: Merry?

MERRY: Not at all.
Không hề.

MERRY: I can’t feel the presences of boundaries in here…
Tớ không cảm nhận được kết giới nào đang hiện hữu cả…

RENKO: Did we go to the wrong place?
Chúng ta đã đến sai chỗ rồi ư?

RENKO: Give me the map.
Đưa cho tớ bản đồ.

RENKO: Ah, I’m wrong.
Tớ nhầm rồi.

RENKO: It should be here in the first place, why…
Đáng ra từ đâu phải nằm ở đây chứ, tại sao lại thế…

MERRY: Seems like somebody is living here regularly…
Có vẻ như có người thường xuyên ở đây nhỉ…

MERRY: What’s that?
Thứ đó…

MERRY: Ah!
A!

MERRY: Renko, look at that!
Renko, nhìn này!

RENKO: What’s the matter?
Có chuyện gì thế?

MERRY: Kochiya Sanae!
Kochiya Sanae!

MERRY: It must be here, no doubt!
Chắc chắn là chỗ này rồi, không nhầm được đâu!

RENKO: If so, why can’t you feel the presences of the boundaries?
Nếu thế, tại sao cậu lại không cảm nhận được các đường ranh giới hiện hữu chứ?

MERRY: I don’t know.
Tớ không biết nữa.

MERRY: As soon as I entered here, I thought that there will be some leading clues…
Ngay lúc đặt chân đến đây, tớ cứ nghĩ chúng ta sẽ có thêm manh mối dẫn đường nào đó…

MERRY: But I can’t feel anything…
Nhưng tớ không cảm nhận được gì cả…

RENKO: Forget about it.
Quên chuyện đó đi.

RENKO: If we’re in the right place,
Nếu đã ở đúng chỗ rồi,

RENKO: Let’s head deeper into the interior!
Thì hãy mau vào bên trong xem xét thôi nào!

MERRY: Can you please listen to me for a while?
Cậu có thể nghe tớ nói một chút có được không?

MERRY: Gosh, wait for me, Renko!
Này, chờ tớ với, Renko!

MERRY: Wait for me… You’re fast…
Chờ chút đã… Cậu đi nhanh quá…

RENKO: Hey Merry, look at this.
Khoan đã Merry, nhìn đi này.

RENKO: It says “God Mishaguji” in here.
Trong đây có nói về “Thần Mishaguji” này.

MERRY: God Mishaguji
Thần Mishaguji

MERRY: It’s true that they are native gods being worshipped in Suwa…
Đúng là Thần Bản địa được thờ phụng ở Suwa rồi…

MERRY: Seems like they are referred as the great apparent deity of Moriya.
Có vẻ như họ được nhắc đến như Vị Đại Thần của đền Moriya thì phải.

Uhm.
Ừm.

RENKO: According to this book,
Theo quyển sách này viết,

RENKO: The Kochiya family had inherited the secret rituals to the God Mishaguji for generations.
Thì nhà Kochiya đã kế thừa những bí thuật của Thần Mishaguji qua nhiều thế hệ rồi.

RENKO: But the great apparent deity of Moriya,
Nhưng, Vị Đại Thần của đền Moriya

RENKO: Had fled away from here as they are suppressed by the god… Takeminakata.
Đã bỏ trốn từ đây sau khi bị đàn áp bởi… Thần Takeminakata.

MERRY: Ah…
À…

MERRY: Somebody littered their cans here…
Có người vứt mấy lon nước ở đây này…

MERRY: They must receive punishment…
Họ phải bị trừng phạt thôi…

RENKO: Surely enough.
Chắc rồi.

RENKO: Since there are only a few people who believed in deities…
Vì còn rất ít người tin vào Thấn linh

RENKO: And things like this will happen.
Và những chuyện giống như vậy cũng sẽ xảy ra thôi.

RENKO: The existence of gods has now scientifically denied
Sự hiện diện của Thần linh đã bị khoa học chối bỏ rồi.

RENKO: Nobody will feel anything even though they’re in such place that’s in deep involvement with the god’s tradition…
Chẳng có ai cảm thấy được điều gì đâu. Cho dù có ở một nơi có đầy những truyền thống sâu sắc của các thần đi nữa.

RENKO: Japan nowadays
Nhật Bản ngày nay

RENKO: Is just like a grave for gods.
Hệt như mồ chôn của các vị thần vậy.

MERRY: Renko, come here!
Renko, đến đây nè!

RENKO: Wah!
Oái!

RENKO: Ouch…
Đau quá…

MERRY: What’s the matter?
Có chuyện gì hả?

MERRY: Serves you right.
Đáng đời cậu lắm!

RENKO: You’re mean, Merry…
Merry quá ư là xấu tính luôn đó!

MERRY: Thanks to the hat that raises the defense value of the head, I’m intact.
Nhờ có chiếc mũ bảo vệ đầu mà tớ bình yên vô sự này.

RENKO: Don’t even make fun at me at a time like this!
Đừng có trêu tớ ở thời điểm như vậy chứ!

RENKO: The lintel is too low…
Tại cây sào đó ở thấp quá mà…

MERRY: Back to the subject…
Quay về chủ đề chính…

MERRY: This place looks quite old-fashioned…
Nơi này nhìn cũ kĩ quá nhỉ…

RENKO: Looks like it had a modernized renovation to preserve the original appearance of the shrine.
Có vẻ như cũng có cải thiện đôi chút để duy trì vẻ bên ngoài của ngôi đền nữa.

RENKO: Such an unusual custodian in this era…
Quả là một người bảo hộ kì lạ ở thời đại này…

MERRY: Renko, there’s a garden!
Renko, có một khu vườn kìa!

RENKO: Woah!
Chà!!

MERRY: Geez, Renko is so childish.
Trời, Renko con nít quá đấy.

RENKO: What a beautiful garden…
Khu vườn đẹp thật đó…

MERRY: Yeah…
Đúng rồi đó…

MERRY: It’s very quiet here. As if time stopped.
Ở đây yên tĩnh thật, như thể thời gian ngừng trôi vậy.

RENKO: Don’t fall down.
Đừng có mà té xuống đó.

MERRY: I’m not as careless as Renko does.
Tớ không có bất cẩn như Renko đâu.

RENKO: I’m just being inattentive that time!
Chỉ là tớ không để ý khi nãy thôi mà!

RENKO: I’m better in that than Merry does…
Tớ còn cẩn thận hơn cả cậu đấy nhé…

Ah?!

Ah!!!

RENKO: Merry!

RENKO: Cause I’m being more reliable than you do…
Vì tớ đáng tin hơn cả cậu nữa…

MERRY: T-Thanks…
C-Cảm ơn cậu…

YAYOI: Who is it?
Hai cô là ai?

MERRY: Wha-
Hả…

MERRY: Uhm… Ah-
À… Ối…

RENKO: Ah, I’m sorry!
Dạ, chúng cháu xin lỗi!

RENKO: We’re… Uhm…
Chúng cháu là… à…

-Sanae…!

RENKO: Ah! Yes yes!
À! Phải rồi!

RENKO: We’re here to meet someone called Sanae!
Chúng cháu đến để gặp người tên là Sanae!

Sanae…

Villager: Lady Sanae… It’s Lady Sanae!
Cô Sanae… Đúng là cô Sanae rồi!

RENKO: Perhaps… Are you Sanae?
Chẳng lẽ… Bà là Sanae sao ạ?

YAYOI: You know… Sanae?
Các cháu biết Sanae ư?

YAYOI: I am Sanae’s elder sister, Yayoi.
Bà là chị gái của Sanae, tên là Yayoi.

RENKO: So you’re her sister!
Vậy ra, bà là chị của bà ấy!

RENKO: Merry!

Uhm!
Ừm!

YAYOI: But, if you came to see Sanae…
Nhưng nếu hai cháu đến tìm Sanae…

YAYOI: She is no longer… in this world…
Em ấy đã không còn… ở thế giới này nữa rồi…

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

MERRY: She’s not in this world…?
Bà ấy không ở thế giới này…?

MERRY: She had passed away?
Bà ấy đã qua đời rồi sao ạ?

YAYOI: No… I do not know the details, either…
Không phải… Bà cũng không rõ chi tiết nữa…

RENKO: Ah…
Dạ thưa…

YAYOI: But, I think that she is surely still alive in another world.
Nhưng, bà tin chắc em ấy vẫn còn sống ở một thế giới khác.

YAYOI: Not the afterlife, but in another world.
Không phải là kiếp sau. Mà là một thế giới khác.

-Perhaps it is Gensoukyou?
Phải chẳng nơi đó là Ảo Tưởng Hương không ạ?

YAYOI: You know Gensoukyou?
Cháu biết Ảo Tưởng Hương sao?

Yup! Yes!
Vâng!

YAYOI: I see…
Ta hiểu rồi…

YAYOI: I should have noticed it sooner…
Lẽ ra bà phải để ý sớm hơn chứ nhỉ…

YAYOI: That both of you recognized it…
Rằng hai cháu đã nhận thấy điều đó rồi…

YAYOI: Excuse me.
Xin lỗi nhé.

YAYOI: Please go inside.
Mời hai cháu vào trong.

RENKO: Seems like we’re right!
Hai đứa mình không nhầm đâu!

Uhm!
Ừm!

RENKO: Excuse me for the disturbance!
Xin lỗi vì đã làm phiền!

MERRY: Excuse me for the disturbance!
Xin lỗi vì đã làm phiền!

YAYOI: I cannot believe that there are people coming here to visit Sanae now.
Bà vẫn chưa tin được vẫn còn người đến đây để thăm Sanae.

YAYOI: That is unbelievable.
Đúng là chuyện khó tin mà.

YAYOI: But…
Thế nhưng…

MERRY: Thank you very much.
Cháu cảm ơn bà.

YAYOI: How do you know the existence of Sanae, who had already vanished?
Làm sao hai cháu biết được sự tồn tại của Sanae, người vốn dĩ đã biến mất trước đó rồi?

RENKO: Thanks!
Cảm ơn bà.

RENKO: Vanished…? What do you mean?
Biến mất…? Ý bà là sao ạ?

YAYOI: From that time on…
Kể từ lúc đó…

YAYOI: Sanae seems like she did not exist in this world from the beginning.
Sanae đã không tồn tại ở thế giới này ngay từ ban đầu rồi.

YAYOI: She has vanished away from everyone’s memories…
Em ấy đã biến mất khỏi kí ức của mọi người…

RENKO: She’s vanished away from their memories?
Bà ấy đã biến mất khỏi kí ức của họ sao ạ…?

MERRY: Could you explain it in detail?
Bà có thể giải thích thêm không ạ?

YAYOI: Different from being forgotten completely in memories of people in this world as one die…
Nó khác với việc bị mọi người hoàn toàn lãng quên sau khi đã chết ở cõi này…

YAYOI: Nobody knows her at all, as if she did not exist in this world from the start…
Không một ai biết em ấy cả, như thể không tồn tại ở thế giới này từ ban đầu…

RENKO: As if she didn’t exist in this world from that start!?
Như thể không tồn tại ở thế giới này từ ban đầu sao ạ?!

MERRY: You’re just repeating her words…
Cậu đang lặp lại lời của bà ấy đó…

RENKO: There are no data of her left in the government office?
Không có hồ sơ của bà ấy được lưu lại ở văn phòng chính phủ sao ạ?

RENKO: But surely even in that era, advanced electronic data does not exist too, right?
Nhưng dù ở thời đại đó, công nghệ thông tin chưa tồn tại đâu, có phải không bà?

YAYOI: She is not in anywhere. As if her history of existence has wiped away.
Em ấy không hiện diện ở bất cứ đâu. Như thế lịch sử tồn tại đã bị xóa sạch hoàn toàn.

RENKO: So the name on the mailbox…
Vậy, tên ở trên thùng thư là…

YAYOI: I wrote that.
Là bà đã viết nó.

YAYOI: With the absence of all records regarding to her,
Không có hồ sơ hay ghi chép nào về Sanae,

YAYOI: I am the only one who remembers her existence.
Bà là người duy nhất nhớ được sự tồn tại của em ấy.

MERRY: All records… is it?
Tất cả ghi chép… sao ạ?

MERRY: Not everything of her is gone.
Không phải mọi thứ về bà ấy đã biến mất đâu ạ.

YAYOI: Really?
Thật sao?

MERRY: Please wait a moment.
Xin bà chờ một chút.

MERRY: Ah! There it is!
A, đây rồi!

YAYOI: That is…
Đó là…

YAYOI: Sanae…
Sanae…

RENKO: Is this Sanae, undoubtedly?
Đây chính xác là Sanae, phải không ạ?

YAYOI: Yes. It’s no mistake. This guise is the wind priestess attire of the Kochiya family.
Phải, không nhầm đâu. Đây là trang phục Vu nữ của Gió của tộc Kochiya.

MERRY: But why only Yayoi remembers Sanae?
Nhưng tại sao chỉ có bà Yayoi vẫn còn nhớ đến Sanae?

YAYOI: Is it because…
Đó là vì…

YAYOI: that we are blood related sisters?
Hai chúng ta là chị em ruột thịt…?

Sa: Sis,
Chị nè,

Sa: Are you going to the city?
Chị sắp phải lên thành phố sao?

YAYOI: I’m sorry. But the university over there has accepted me.
Chị xin lỗi. Nhưng trường đại học ở đó đã nhận chị rồi.

Sa: I guess I can’t see sis for a while…
Vậy là em sắp không được gặp chị trong thời gian tới rồi…

Sa: Feels like my heart’s being ripped apart…
Cảm giác như trái tim bị xé làm hai mảnh vậy…

YAYOI: Don’t worry.
Đừng lo.

YAYOI: I’ll come back regularly.
Chị sẽ về thường xuyên mà.

YAYOI: I will.
Chắc chắn đó.

Sa: Okay!
Dạ!

YAYOI: That’s so like you… I do care about you…
Em đúng thật là… Chị quan tâm em nhiều lắm đấy…

YAYOI: Since then, I had never met her even once.
Kể từ lúc đó, bà chưa gặp lại em ấy lần nào cả.

MERRY: How did she disappear from this world? Do you know anything about it?
Bằng cách nào mà bà ấy đã biến mất khỏi thế giới này ạ? Bà có thông tin gì về chuyện này không ạ?

YAYOI: I don’t even know about the details.
Bà thậm chị còn không biết đầu đuôi của sự việc nữa.

YAYOI: Since that time, I was studying at a university in Yokohama.
Vì khi đó, bà đang học đại học ở Yokohama.

MERRY: Is that so…
Vậy sao ạ…

YAYOI: At those days, I was on bad terms with my family….
Thời gian đó, bà không mấy hòa thuận với gia đình mình…

YAYOI: Eventually, during those four years in university, I never went back home…
Và như thế, suốt bốn năm đại học, bà chưa quay về nhà lần nào.

YAYOI: Ah, sorry. I’ve been talking too much.
À, xin lỗi nhé. Bà nói nhiều quá rồi.

MERRY: No. There’s no such thing.
Không sao đâu ạ.

RENKO: Not at all.
Chúng cháu không phiền đâu ạ.

RENKO: Please continue.
Bà hãy tiếp tục đi ạ.

YAYOI: After I had graduated from university, I lived in Yokohama for a while.
Sau khi tốt nghiệp đại học, bà sống ở Yokohama thêm một khoảng thời gian nữa.

YAYOI: And I was concerned about Sanae…
Bà đã lo cho Sanae…

YAYOI: So, I went back home…
Vậy nên, bà đã quay về.

YAYOI: And at that time…
Và khi đó…

YAYOI: That was something a little bit unconventional…
Đã có chuyện một chút kì lạ xảy ra…

RENKO: What happened?
Đó là chuyện gì vậy ạ?

YAYOI: I…
Bà đã…

YAYOI: impersonated myself as Sanae…
Giả danh Sanae…

R & MERRY: Impersonated?!
Giả danh sao?!

YAYOI: Yes.
Phải.

YAYOI: When I returned, Sanae had already gone.
Khi bà về nhà thì Sanae đã đi mất rồi.

YAYOI: And the neighbors who saw me return thought that I was Sanae.
Và những người hàng xóm khi thấy bà về, họ đã nghĩ là bà chính là Sanae.

RENKO: Why did the neighbors think that Yayoi was Sanae?
Tại sao hàng xóm lại nghĩ bà Yayoi là Sanae vậy ạ?

RENKO: No matter how alike you and her are as sisters, you two aren’t twins…
Dù thoạt nhìn có giống nhau đi nữa, hai người cũng không phải là sinh đôi cơ mà…

YAYOI: How should I put it into words…
Biết nói sao đây nhỉ…

YAYOI: At that time, they didn’t care about me.
Khi đó, không ai quan tâm đến bà cả.

MERRY: What do you mean?
Ý của bà la sao ạ?

YAYOI: To talk about that…
Nói về chuyện đó thì…

YAYOI: I must start from when we were still very, very young…
Phải bắt đầu từ khi hai chị em ta còn bé cơ…

YAYOI: Being sisters, we had a good relationship with each other since childhood.
Là chị em với nhau, hai bà đã rất thân với nhau từ hồi còn nhỏ xíu.

YAYOI: Sanae called me “sis”.
Sanae gọi bà là chị.

YAYOI: She always depended on me.
Hai chị em ta luôn nương tựa vào nhau.

YAYOI: However…
Nhưng mà…

YAYOI: Being descendants of the gods…
Vì là hậu duệ của Thần linh…

YAYOI: One of our family’s greatest obligation is to hold rituals to the gods…
Một trong những nghĩa vụ quan trọng của gia đình bà là giữ gìn nghi lễ với họ.

YAYOI: Among them all, the secret ritual of the Kochiya family is particularly important
Trong số chúng, bí thuật của tộc Kochiya có lẽ là quan trọng nhất.

YAYOI: However, I possess nearly no spiritual power…
Thế nhưng, bà lại không có sức mạnh tâm linh nào cả…

YAYOI: I am never able to feel or see their presences.
Bà không thể cảm nhận hay nhìn thấy sự hiện diện của các thần.

YAYOI: Or even listen to their voices…
Thậm chí nghe thấy giọng nói của họ…

YAYOI: Because of that, despite being the eldest daughter,
Vì thế, tuy là nữ trưởng của gia tộc,

YAYOI: I was never appointed as position of the priest passed down to generations in our clan…
Bà chưa bao giờ được đảm nhiệm làm vu nữ đời tiếp theo cả…

RENKO: Seeing appearances of the gods?
Thấy được sự hiện diện của các thần?

RENKO: So this means, they do exist?
Vậy có nghĩa là, họ có tồn tại sao ạ?

YAYOI: I cannot sense presences of the gods.
Bà không cảm nhận được sự hiện hữu của thần linh.

YAYOI: But despite that, I believe in them.
Dù là thế, nhưng bà có tin vào họ.

MERRY: Sanae can sense such presences?
Bà Sanae có thể cảm nhận được sự hiện diện đó ạ?

YAYOI: Yes.
Đúng vậy.

YAYOI: Sanae possessed mighty spiritual powers since her birth.
Từ khi sinh ra, Sanae đã sở hữu những sức mạnh tâm linh như thế rồi.

YAYOI: She can communicate with the gods since she was young.
Em ấy đã có thể trò chuyện với thần linh từ khi còn nhỏ.

YAYOI: Among all generations, even the owner of outstanding qualities said so.
Đã qua nhiều thế hệ , thậm chí người đặt ra những tiêu chuẩn cao cho gia tộc đã nói như thế.

YAYOI: Sanae can even interact with the gods.
Sanae thậm chí còn tương tác với thần linh được nữa.

YAYOI: On the other hand, I cannot hear voices of the gods.
Mặt khác, bà không thể nghe thấy giọng nói của các thần.

YAYOI: As a clan who serves and worships gods
Là một gia tộc phụng sự và tôn thờ thần linh

YAYOI: The surrounding attitudes towards me are…
Thái độ của mọi người xung quanh đối với bà…

Sa: Kya!
Oái!

YAYOI: However…
Nhưng mà…

YAYOI: I had a really good relationship with Sanae…
Bà có mối quan hệ rất tốt với Sanae…

YAYOI: Seeing such a sister, I guess I had been caring for her unintentionally.
Thấy em gái mình như thế, bà đoán mình đã luôn chăm sóc em ấy trong vô thức rồi.

MERRY: You don’t hate her?
Bà không ghét bà ấy sao ạ?

YAYOI: With our childish minds, we simply let such a difference in treatment be it…
Với tâm hồn non nớt như thế, chúng ta chẳng bận tâm về sự khác biệt trong cách đối xử đâu…

YAYOI: Grandpa!
Ông ơi!

YAYOI: My teacher at school said so!
Giáo viên ở trường cháu đã nói như vậy đó!

YAYOI: Even my first choice to university is go…
Thậm chí, lựa chọn đầu tiên vào đại học của cháu là trường…

Pri: Please be quiet!
Xin hãy giữ thinh lặng!

Pri: Lord Masayuki is now preparing the imparting ceremony of secret arts to Lady Sanae!
Bây giờ, Ngài Masayuki đang chuẩn bị nghi thức truyền bí thuật cho cô Sanae ạ!

Pri: There is nothing you can do about it, Lady Yayoi. Please go back.
Cô không thể ngăn cản được gì đâu, thưa cô Yayoi. Xin cô hãy về nhà đi ạ.

YAYOI: At that time, I was convinced that…
Khi đó, bà đã sáng mắt nhận ra…

YAYOI: There is no meaning to staying in this family anymore…
Rằng việc mình ở gia đình này không còn ý nghĩa gì nữa.

YAYOI: Since to the Kochiya clan…
Vì đối với tộc Kochiya…

YAYOI: The succession of secret arts and becoming a servant to the gods are more important than anything else.
Việc kế thừa các nghi thức và trở thành người phụng sự thần linh là quan trọng hơn tất thảy mọi thứ.

YAYOI: There is no need to grieve for me.
Các cháu chẳng cần phải buồn cho bà làm gì đâu.

YAYOI: That is inevitable.
Chuyện đó là không thể tránh khỏi rồi.

MERRY: So you’re saying that once you returned home from Yokohama,
Vậy bà đang nói rằng, sau khi bà rời Yokohama và trở về nhà,

MERRY: you impersonated Sanae?
Bà đã giả danh thành bà Sanae sao ạ?

MERRY: During that time, did anyone asked for Yayoi’s whereabouts?
Trong khoảng thời gian không có nhà, có ai hỏi thăm về nơi bà đang ở không ạ?

YAYOI: Unfortunately, seems that there were none at all…
Đáng tiếc là không có ai cả…

YAYOI: The only person who cared about me was…
Người duy nhất quan tâm đến bà là…

YAYOI: no other than Sanae.
Không ai khác ngoài Sanae.

Sa: I am so sorry.
Em xin lỗi chị.

Sis, by the time you are reading this letter,
Chị à, thời điểm mà chị đọc lá thư này,

I am no longer staying in this world anymore.
Thì em không còn tồn tại ở thế giới này nữa rồi.

Lady Kanako had decided to move to “Gensoukyou”.
Ngài Kanako đã quyết định dời đến “Ảo Tưởng Hương”.

It seems like a place with more fulfilling faith.
Có vẻ như nơi đó tràn đầy đức tin đó chị ạ.

Being a shrine maiden of the gods, I must join with them.
Là một vu nữ của các thần, em bắt buộc phải đi theo họ.

I might not be able to see sis again…
Có lẽ, em không thể gặp lại chị một lần nào nữa rồi…

Even so, Sanae will keep thinking about you.
Dù thế, Sanae sẽ luôn luôn nghĩ đến chị.

I believe that you will also always remember about Sanae…
Em tin chắc chị cũng sẽ lúc nào cũng nhớ đến Sanae…

However, I just want to meet sis for one last time…
Thế nhưng, em chỉ muốn gặp chị một lần cuối cùng thôi…

That’s my only regret…
Đó là điều duy nhất mà em hối tiếc…

YAYOI: From that day on, I lived as Sanae.
Kể từ ngày đó, bà sống dưới tên của Sanae.

YAYOI: Since we are similar to each other being sisters, nobody ever noticed about it…
Vì hai bà là chị em và có ngoại hình khá tương đồng, không một ai sẽ nhận ra điều đó cả…

YAYOI: “Yayoi” is an unwanted person in this family.
“Yayoi” là chú cừu đen giữa bầy cừu trắng. (1)

YAYOI: Even if she did not return home for a long time, nobody would care about her.
Dù cho có trở về sau một thời gian dài, sẽ không có ai quan tâm đến cô ấy đâu.

MERRY: But since you two are sisters, more or less, did you get find out?
Nhưng vì hai người là chị em, trước sau gì cũng có bị phát hiện không ạ?

MERRY: For example, being asked about things regarding the secret art by others..
Ví dụ như, người khác hỏi về những thứ liên quan đến bí thuật ấy ạ…

YAYOI: I was asked with such and thought about it…
Bà đã bị hỏi về mấy thứ đó và cũng có suy nghĩ một chút về nó…

YAYOI: Sanae used to talk about that a lot long ago.
Trước đây, Sanae đã từng nói về những chuyện đó.

YAYOI: The secret is unknown to the rest other than the many heirs of the Kochiya clan.
Người ngoài không được phép biết về các bí thuật đó ngoại trừ những người thừa kế của tộc Kochiya.

YAYOI: And naturally, the priests don’t know about it…
Và đương nhiên, các tu sĩ không biết về những chuyện đó…

MERRY: I see…
Ra là vậy…

RENKO: So that’s the case…!
Thì ra mọi chuyện là như thế…!

MERRY: In that case, even the priests will believe in you…
Nếu là thế, thì các tu sĩ đã tin vào lời bà nói…

YAYOI: Well.. That….
À… Chuyện đó thì…

YAYOI: I noticed it after I stopped being Sanae.
Bà đã nhận ra điều đó sau khi không còn làm Sanae.

YAYOI: In people’s perception…
Trong nhận thức của người ngoài…

YAYOI: No, not only that….
Không, không những thế…

YAYOI: Even the shrine and legends passed down in the family from generation to generation…
Dù cho ngôi đền và các truyền thuyết được gia tộc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác….

YAYOI: Have changed…
Đã thay đổi đi nữa…

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

MERRY: A change in the shrine and legends? What exactly is that? In particular?
Một thay đổi trong đền và truyền thuết? Nghĩa là sao ạ? Chính xác thì là sao ạ?

RENKO: Is it true that the name of this shrine is Suwa Shrine…
Có thật là tên của ngôi đền này là Tưu Phóng Thần Xã…

RENKO: And its legend is the story of God Takeminakata?
Và truyền thuyết gắn liền là câu chuyện về Thần Takeminakata không ạ?

RENKO: It’s surely about the son of a great land owner, God Takeminakata,
Chắc chắc đó là chuyện về con trai của một địa chủ hùng mạnh, Thần Takeminakata,

RENKO: He lost to the God Takemikazuchi in the middle of taking over the country.
Người đã thất bại trước Thần Takemikazuchi trong trận chiến xâm lược đất nước.

RENKO: He fled away to the Suwa district.
Người đã bỏ trốn đến quận Suwa,

RENKO: And conquered the Native God Mishaguji over there, right?
Và chinh phục được thần bản địa ở đó, Thần Mishaguji, phải không ạ?

RENKO: In the end, he occupied the Suwa districts and became the main deity of Suwa… That is what happened.
Cuối cùng, Người đã thu phục được các quận ở Suwa và trở thành vị đại thần của nơi đó. Đó là chuyện đã xảy ra.

YAYOI: Yes. That is how the legend becomes after the change.
Phải. Đó là truyền thuyết sau khi có sự thay đổi đó.

MERRY: Eh, after the change?
Sao cơ? Sau khi có thay đổi sao ạ?

MERRY: This is the story after the change…?
Đó là câu chuyện sau sư thay đổi sao ạ?

YAYOI: Yes.
Phải.

YAYOI: I do not know the reason in detail…
Bà không biết lí do chi tiết vì sao…

YAYOI: But there is a main god who also vanished when Sanae disappeared…
Nhưng cũng có một vị đại thần cũng biến mất cùng thời điểm với Sanae…

YAYOI: Her name is, Lady Moriya Suwako…
Tên của Ngài là Moriya Suwako….

MERRY: Lady Moriya Suwako?
Ngài Moriya Suwako ạ?

YAYOI: I do not know about the details.
Bà không biết chi tiết về việc đó.

YAYOI: And it seems that Sanae did not understand it well either.
Và có vẻ như Sanae cũng không rõ về chuyện đó nữa.

YAYOI: But… Before the history was changed…
Nhưng… Truóc khi lịch sử bị thay đổi…

YAYOI: Records about Lady Suwako are left behind…
Ghi chép về Ngài Suwako được để lại…

YAYOI: Unlike what is known nowdays,
Khác với những điều được biết hiện nay,

YAYOI: The god that ruled the Suwa district at that time was not the God Mishaguji,
Vị thần cai quản quận Suwa khi ấy không phải là Thần Mishaguji.

YAYOI: but Lady Suwako.
Mà là Ngài Suwako.

YAYOI: Then, God Mishaguji became a familiar spirit to Lady Suwako.
Khi đó, Thần Mishaguji đã trở thành Linh thú của Ngài Suwako.

MERRY: Oh…
Ồ!

YAYOI: According to the current legends, God Mishaguji is a very brutal retribution god.
Theo truyền thuyết ngày nay, Thần Mishaguji là một Oán Thần vô cùng tàn bạo.

YAYOI: For that reason, Lady Suwako was able to appease him.
Vì lẽ đó, Ngài Suwako đã có thể làm Ngài ấy nguôi giận.

YAYOI: That is, with Lady Suwako as the main pillar, she can build a country to her extends.
Với Ngài Suwako là trụ cột, Ngài đã có thể gầy dựng và mở rộng đất nước.

YAYOI: Having enough faith to build a whole country…
Có đủ đức tin để gầy dựng một đất nước…

YAYOI: Yes. However, having such things to that extend is not unusual in the ancient times.
Phải. Nhưng những thứ to lớn như thế thì rất bình thường với thời đại đó.

YAYOI: The country which Lady Suwako ruled,
Đất nước mà Ngài Suwako cai quản,

YAYOI: was attacked by a certain god.
Bị một vị thần khác đánh chiếm.

YAYOI: Her name is…
Tên của vị thần ấy…

YAYOI: Lady Yasaka Kanako.
Là Yasaka Kanako.

MERRY: Lady Yasaka Kanako….
Thần Yasaka Kanako…

YAYOI: Yes. In contrast to the present history, God Takeminakata does not exist.
Phải. Khác với lịch sử hiện tại, không tồn tại Thần Takeminakata.

YAYOI: In the records before the changed happened,
Trong ghi chép trước khi có sự thay đổi đó,

YAYOI: All gods are called Takeminakata…
Những vị thần được gọi là Takaminakata…

YAYOI: Was called Yasaka Kanako.
Đều được gọi là Yasaka Kanko.

YAYOI: In other words, Yasaka Kanako within all records…
Nói cách khác, Yasaka Kanako trong các ghi chép…

YAYOI: Had become all the Takeminakatas.
Đã trở thành các Thần Takeminakata.

YAYOI: There is also something overlapped with present records of the story when the invasion began…
Cũng có thứ gì đó trùng lặp với các ghi chép về câu chuyện trong hiện tại khi cuộc xâm lược bắt đầu…

YAYOI: To put it in simple words,
Nói đơn giản,

YAYOI: Being an ancient god of Japan outside, Lady Kanako,
Là một vị thần cổ đại của Nhật Bản bên ngoài, Ngài Kanako…

YAYOI: attacked this area.
Đã tấn công lãnh địa này.

YAYOI: Lady Suwako, who was ruling this land, was ambushed by her.
Ngài Suwako cai trị vùng đất đã bị Ngài Kanako mai phục.

YAYOI: In order to counter with Lady Kanako…
Để phản công lại Ngài Kanako…

YAYOI: Lady Suwako used ironware that was said to be the cutting-edge in those days.
Ngài Suwako đã sử dụng vũ khí bằng sắt, thứ được xem là tiên tiến ở thời đó.

YAYOI: However, Lady Kanako seems to know the weakness of ironware well enough.
Tuy nhiên, có vẻ Ngài Kanako đã biết rõ nhược điểm của sắt.

YAYOI: And corrode it by entangling it with moisture.
Và đã dùng độ ẩm quấn vào thứ vũ khí đó và ăn mòn dần.

RENKO: That surely is an effective method!
Đó chắc chắn là một phương pháp hữu hiệu!

YAYOI: The results were clear as daylight.
Thắng bại rõ như ban ngày.

YAYOI: Lady Suwako admitted her defeat and handed over her country.
Ngài Suwako thừa nhận mình thua trận và đã trao lại đất nước.

YAYOI: And Lady Kanako became the ruler of this country.
Ngài Kanako trở thành người trị vì đất nước này.

YAYOI: She also became the main god of this shrine.
Và Ngài trở thành vị thần chính của ngôi đền.

YAYOI: Lady Kanako continues to be the main deity…
Ngài Kanako tiếp tục làm Đại Thần

YAYOI: while Lady Suwako retired.
Trong khi Ngài Suwako đã thoái lui.

RENKO: Are there records of Lady Suwako after her retirement?
Có nghi chép nào về Ngài Suwako sau khi ngài ấy thoái lui không ạ?

YAYOI: No, there were not much records left at that time.
Không. Khi ấy không có để lại nhiều ghi chép lắm.

YAYOI: And I do not know about the details.
Và bà không biết chi tiết sự việc ra sao.

YAYOI: Moreover, all records about them had disappeared nowadays.
Hơn nữa, hiện nay, những ghi chép về họ cũng đã biến mất rồi.

MERRY: Well, can you take a look at this please?
Vậy, bà có thể xem thứ này được không ạ?

YAYOI: That is…
Đó là…

YAYOI: Both of their records are still left behind…
Ghi chép về hai ngài ấy vẫn còn được lưu lại…

YAYOI: Apparently, it seems that the history of both gods…
Có vẻ như lịch sử về các thần,

MERRY: Remains in this book, just like Sanae.
Đều được lưu lại trong quyển sách này, như ghi chép của bà Sanae.

RENKO: I see.
Hiểu rồi.

RENKO: If that’s the case, it would make sense.
Mọi chuyện sẽ có lí nếu là như thế.

RENKO: In other words, according to this book
Nói cách khác, theo quyển sách này,

RENKO: Lady Suwako is the embodiment of pure faith.
Ngài Suwako là hiện thân của đức tin trong sạch.

RENKO: And therefore, she went to another world.
Vì thế, ngài ấy đã đến một thế giới khác.

RENKO: And with that, records about her disappeared from this world.
Và như thế, những ghi chép về ngài ấy cũng đã biến mất khỏi thế giới này.

YAYOI: Eh… That makes sense…
Ừ… Có vẻ hợp lí đấy…

YAYOI: Despite that, the impact of this change is unusual…
Dù là thế, sự thay đổi này có sức ảnh hưởng cũng hơi bất thường…

YAYOI: However, I am the only one who noticed it.
Tuy nhiên, bà là người duy nhất để ý chuyện đó.

YAYOI: Hence, no one has any doubt to it.
Và cũng không có ai nhận ra chuyện đó cả.

YAYOI: To the people’s knowledge of the shrine,
Đối với sự hiểu biết của khách viếng đền,

YAYOI: It has changed as a matter of course.
Thì việc tương truyền thay đổi là chuyện đương nhiên…

YAYOI: Am I able to realize it because I am part of the Kochiya clan?
Có phải là do bà là người của tộc Kochiya nên đã nhận ra điều đó không?

MERRY: So, the change in recognition,
Vậy, sự thay đổi trong nhận thức,

MERRY: Has changed in the same way as our current knowledge of this shrine…
Đã thay đổi giống như sự hiểu biết của chúng ta về ngôi đền này…

MERRY: What do you mean?
Ý của bà là sao ạ?

YAYOI: Yes. People nowadays have taken it for granted, that the name of this shrine was not the Moriya Shrine.
Phải. Người ngày nay đã không mấy xem trọng việc, rằng tên của ngôi đền này không phải là Thủ Thỉ Thần Xã.

YAYOI: But the Suwa Shrine,
Nhưng đối với Tưu Phóng Thần Xã,

RENKO: Moriya Shrine… It’s the name of the shrine written in this book.
Theo quyển sách ghi thì nó mang tên là Thủ Thỉ Thần Xã.

YAYOI: And it is here naturally.
Và theo lẽ hiển nhiên thì nó ở đây.

YAYOI: The festival of the Gods Takeminakata and Yasakatome
Lễ hội của Thần Takeminakata và Thần Yasakatome

YAYOI: Is mentioned in the legend of God Mishaguji.
Được đề cập đến trong truyền thuyết của Thần Mishaguji.

YAYOI: The original gods, Yasaka Kanako and Moriya Suwako,
Theo nguyên bản, thì Thần Yasaka Kanako và Thần Moriya Suwako,

YAYOI: had vanished as if they didn’t exist at all.
Đã biến mất như chưa bao giờ tồn tại.

YAYOI: I am unable to see Gods’ presences,
Bà không thể thấy sự hiện diện của các thần,

YAYOI: So I don’t know if the god is in this shrine.
Nên bà không biết được có vị thần nào ngụ trong đền này hay không.

YAYOI: But…
Nhưng…

YAYOI: According to the book you brought here…
Dựa theo quyển sách hai cháu đã mang đến…

MERRY: So this means that, both gods and Sanae…
Vậy có nghĩa là, hai vị thần và bà Sanae…

MERRY: have left this world in a somewhat similar way…
Đã rời bỏ thế giới này bằng phương pháp khá giống nhau…

RENKO: Since the gods vanished, the history will naturally change
Vì các thần đã biến mất, lịch sử cũng sẽ tự mình thay đổi.

YAYOI: Yes… From that time onwards,
Phải… Kể từ khi đó…

YAYOI: The shrine might be a complete empty shell without gods…
Ngôi đền này chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Không có vị thần nào cai quản cả.

RENKO: They became illusions. According to the book, the entered Gensoukyou.
Họ trở thành hư ảnh. Theo quyển sách, họ đã đặt chân đến Ảo Tưởng Hương.

SANAE: It’s now the time of the shrine’s hunting ritual…
Đã đến lúc thực hiện nghi thức tìm kiếm của đền rồi…

SANAE: Since it’s said even the ritual in the outside world has ended as well.
Vì người ta nói là nghi thức thực hiện ở Ngoại Giới cũng đã kết thúc rồi.

SANAE: I should be able to see it through this mirror…
Mình có thể nhìn thấy điều đó qua tấm gương này…

SANAE: Even if Lady Suwako told me that…
Dù trước đó Ngài Suwako có dặn…

SANAE: It’s better to not look at it in a suggestive manner…
Là tốt nhất không được nhìn nó như một phép gợi ý…

SANAE: But what does it mean?
Nhưng, có nghĩa là sao…

SANAE: How is the outside shrine doing? Is sis still fine?
Ngôi đền ở ngoài đó như thế nào rồi? Không biết chị hai vẫn khỏe chứ….

SANAE: I shouldn’t be concerned about that, but…
Mình không nên bận tâm về chuyện đó, nhưng mà…

SANAE: Whatever!
Kệ đi!!

SANAE: I’ll just take a look at it anyway!
Đằng nào mình cũng sẽ dùng nó thôi!

SANAE: Eh!?
Hể…

SANAE: That is…
Đó là…

SANAE: Sis… No way…
Là chị hai… Không lẽ…

SANAE: Sis…
Chị hai…

SUWAKO: Sanae! Is dinner ready yet?
Sanae, có cơm tối chưa vậy?

SANAE: I’m preparing it now, Lady Suwako!
Con đang chuẩn bị đây, thưa Ngài Suwako!

SUWAKO: Recently, my stomach’s somehow unusually hunrgy in here…
Dạo gần đây, bụng ta cứ thèm ăn bất thường như vậy đó…

SUWAKO: Hmm?
Hửm?

SUWAKO: Isn’t the mirror somehow weird?
Bộ cái gương đó có gì lạ hay sao hả?

SANAE: There’s nothing about it!
Không có gì đâu ạ!

SUWAKO: Lemme see! Lemme see!
Để ta xem! Để ta xem!

SANAE: There’s really nothing about it!
Thật sự là không có gì đâu ạ!

SUWAKO: Did I see something wrong just now?
Không lẽ ta vừa nhìn nhầm thứ gì đó?

SANAE: Are you too hungry that you’re even seeing hallucinations?
Hay là do Ngài đói quá nên bị hoa mắt ạ?

SUWAKO: There are things that even Sanae has to be careful of from time to time!
Có mấy thứ mà Sanae phải học cách cẩn thận từ từ đi nhé!

SUWAKO: I have been talking about that over and over again since long ago… Don’t peek…
Ta đã dặn đi dặn lại bao nhiêu lần trước rồi… Đừng có nhìn vào trong gương!

SANAE: “Don’t peek at the outside world with the mirror. It might affect your divine powers”, right?!
“Đừng dùng tấm gương để nhìn ra thế giới bên ngoài, vì điều đó ảnh hửng đến sức mạnh thần thánh của con”, đúng không ạ?

SANAE: I know that!
Con biết chứ!

SUWAKO: Fine then.
Vậy thì tốt.

SANAE: Thanks for worrying about me!
Cảm ơn Ngài vì đã lo lắng cho con!

SANAE: I’ll prepare dinner right now.
Con sẽ chuẩn bị cơm tối liền đây!

KANAKO: It seems that Sanae can’t still forget about her…
Có vẻ như Sanae vẫn chưa quên được người đó…

KANAKO: Even though both of them are your descendants, isn’t that a little bit cruel?
Dù cả hai đều là hậu duệ của cô, nhưng như thế có hơi tàn nhẫn không?

SUWAKO: It doesn’t matter if it’s Sanae or Yayoi.
Sanae hay Yayoi, chuyện đó chẳng quan trọng.

SUWAKO: I don’t support either of them.
Tôi chẳng ủng hộ hai đứa nó chút nào.

SUWAKO: Although both of them are blood-related sisters,
Dù là chị em có chung máu mủ đi chăng nữa,

SUWAKO: Sooner or later, they must take separate paths…
Sớm muộn gì thì cũng phải đường ai nấy đi thôi.

SUWAKO: If Sanae sees how Yayoi is now,
Nếu bây giờ Sanae xem tình hình của Yayoi như thế nào,

KANAKO: Would you mind paying attention to the details when you say “I don’t support either of them”?
Cô nên để ý chi tiết khi cô nói rằng mình chẳng ủng hộ hai đứa nó chút nào thì tốt hơn.

KANAKO: Believe in Sanae, she’s surely…
Cứ tin vào Sanae đi. Chắc chắn con bé…

SUWAKO: Surely?
Chắc chắn?

KANAKO: She’s surely preparing a delicious dinner!
Chấc chắn con bé sẽ chuẩn bị bữa tối rất ngon cho mà xem!

SUWAKO: What a hopeless fellow…
Bó tay với cô luôn…

SANAE: Sis… So you’ve been doing such thing for a long time…
Chị hai… Vậy ra chị đã làm những công việc ấy một thời gian dài…

SANAE: If you’re living in the shrine out there, I can rest assured.
Nếu chị sống ở ngôi đền ngoài đó thì em an tâm rồi.

SANAE: I’m always relying on you all the time… and causing you troubles…
Em lúc nào cũng dựa dẫm vào chị.. Gây rắc rối phiền hà cho chị…

SANAE: It must have been hard for you.
Chắc là em đã gây khó dễ cho chị nhiều lắm…

SANAE: Thank you so much, sis!
Cảm ơn chị nhiều lắm, chị hai!

RENKO: So at first, you’re saying that,
Vậy lúc đầu, bà nói là…

RENKO: All memories and records about Sanae were forgotten.
Mọi kí ức và hồ sơ lưu lạc về bà Sanae đều bị lãng quên.

RENKO: After returning from Yokohama, you started to impersonate as Sanae?
Và sau khi trở về từ Yokohama, bà bắt đầu giả dạng Sanae?

RENKO: Nevertheless, is Sanae really been forgotten by others?
Hơn nữa, người ta có quên bà Sanae không ạ?

RENKO: Since that’s what you mentioned earlier,
Vì và đã đề cập trước đó,

RENKO: Is there anything related to you quit impersonating as Sanae?
Đã có chuyện gì xảy ra với bà sau khi bà không giả danh bà Sanae không ạ?

MERRY: If it were difficult for you to answer it, would it be fine if you don’t tell us?
Nếu chuyện đó quá khó để nói ra, thì tốt hơn bà không cần phải trả lời đâu ạ.

YAYOI: No, I will tell you why.
Không sao. Bà sẽ giải thích.

YAYOI: I had never talked about it to anyone in the last few decades.
Bà chưa từng nói về chuyện này với ai sau một vài thập kỉ rồi.

YAYOI: Though it sleeps deep inside me heart forever, I do not want to recall it
Dù chuyện đó đã ngủ sâu thẳm trong tim bà đã lâu, bà không muốn khơi gọi lại làm gì nữa.

YAYOI: This sin within my memories I had committed in my youth…
Tội lỗi trong kí ức mà bà đã gây ra khi còn nhỏ,

YAYOI: At that time, my heart is occupied by jealousy.
Thời gian đó, trái tim bà ngập tràn sự ganh tị.

YAYOI: I could not see the truth around me
Điều đó làm bà chẳng phân định được sự thật xung quanh mình.

RENKO: The truth around you?
Sự thật xung quanh bà sao ạ?

YAYOI: As I mentioned earlier
Như bà đã nói,

YAYOI: Due to a difference in treatment between Sanae and I since we were children
Chính vì sự phân biệt đối xử giữa bà và Sanae khi còn nhỏ,

YAYOI: I felt a strong jealousy against Sanae at the same time
Bà luôn cảm thấy ganh tị với em ấy.

YAYOI: I also felt the hatred towards my family…
Bà thậm chí rất ghét gia đình mình.

YAYOI: Yes.
Phải.

YAYOI: My heart is occupied by hatred…
Trái tim bà cũng bị lòng căm ghét chiếm lấy.

YAYOI: At the time, I simply wanted to ran away from home.
Thời gian đó, bà chỉ muốn chạy trốn khỏi căn nhà đó thôi.

YAYOI: And I went to the university in Yokohama
Và rồi, bà đi học trường đại học ở Yokohama.

YAYOI: I never returned home for even once.
Không bao giờ trở về nhà dù chỉ một lần.

YAYOI: And never meet Sanae…
Không bao giờ gặp Sanae.

YAYOI: I even did not attend my grandfather’s funeral…
Bà cũng không dự lễ tang của ông mình,

RENKO: Going to such extends…
Chà…

YAYOI: However…
Tuy nhiên…

YAYOI: During the second winter when I impersonate as Sanae, I found a letter
Trong mùa đông thứ hai khi bà giả dạng Sanae, bà đã tìm thấy một bức thư.

YAYOI: After reading it,
Đọc nó xong,

YAYOI: I quited impersonating her.
Bà đã thôi giả dạng em ấy.

YAYOI: Then, from the moment I stepped out my room.
Từ đó, kể từ khoảnh khắc bà bước ra khỏi phòng mình,

YAYOI: People seems to realized that I am Yayoi
người ta nhận ra bà chính là Yayoi.

YAYOI: And Sanae, who did not exist from the start, vanished
Và Sanae, người vốn dĩ không tồn tại từ đầu, đã biến mất.

MERRY: A letter? What kind of letter is that?
Một lá thư? Là lá thư gì thế ạ?

YAYOI: It was sent to my address in Yokohama from my grandfather.
Nó được ông của bà gửi đến địa chỉ thường trú của bà ở Yokohama.

YAYOI: Since I did not want to read it,
Vì không muốn đọc nó,

YAYOI: I sent it back to my parents’ home as it was.
bà đã gửi trả lại nhà cha mẹ của mình.

YAYOI: I was very surprised. My grandfather who did not care about me everyday
Bà khá ngạc nhiên. Ông của bà không có một chút quan tâm bà khi đó,

YAYOI: leaved a letter to me
đã gửi một lá thư.

RENKO: I see…
Ra là thế.

YAYOI: There was only a picture in it
Chỉ có một tấm ảnh trong đó thôi.

RENKO: A picture?
Một tấm ảnh sao ạ?

YAYOI: It was a picture of my grandfather, along with Sanae and I when we are young.
Là tấm ảnh chụp ông, bà Sanae và bà khi còn nhỏ.

YAYOI: While our grandfather stroked our heads
Khi ông xoa đầu cả hai đứa,

YAYOI: Sanae and I smiled very cheerfully
Sanae và bà đã cười rất tươi.

YAYOI: I completely forgot that there was even such a pleasant time.
Bà đã hoàn toàn quên rằng khi ấy mà cũng có một khoảnh khắc bình yên đến vậy.

YAYOI: This picture released me from the curse of my memories.
Tấm ảnh ấy đã xua tan lời nguyền trong kí ức của bà.

YAYOI: Within my memories,
Trong kí ức này,

YAYOI: Not only there are jealousy and hatred, but also love and happiness.
Không những có lòng đố kị và căm ghét, mà còn có tình yêu thương và những niềm vui.

YAYOI: But I completely forgot that about them…
Nhưng bà đã quên chúng dường như là hoàn toàn.

YAYOI: Before my grandfather passed away, even though I wanted to meet him so much,
Trước khi ông của bà qua đời, dù trong thâm tâm rằng rất muốn gặp ông ấy,

YAYOI: I did not return because of my selfishness…
Bà đã không quay về chính vì sự ích kỉ của mình.

YAYOI: Even though Sanae kept waiting for me and my promise to be fulfilled…
Cho dù Sanae có mòn mỏi chờ đợi bà quay về để thực hiện lời hứa khi đó,

YAYOI: In the end, I am unable to meet her for once…
Đến cuối cùng, bà đã không thể quay về gặp em ấy dù chỉ một lần…

YAYOI: I…
Bà…

YAYOI: Despite that… I still… Want to meet Sanae…
Dù thế… Bà vẫn muốn… rất muốn gặp Sanae…

YAYOI: I hope so every day even for now…
Bà đã mong như thế cho đến mãi bây giờ…

MERRY: But, Sanae might be also thinking of the same thing too.
Nhưng mà, Sanae chắc hẳn cũng nghĩ giống như bà vậy thôi…

RENKO: That old lady seems to be alone by herself all along.
Bà lão ấy có vẻ cô đơn khi sống một mình khá lâu như thế…

RENKO: If this goes on, the Kochiya clan’s bloodline of the gods will be cut off.
Cứ cái đà này thì dòng máu thần linh của tộc Kochiya rồi cũng chấm hết thôi.

MERRY: In such times where nobody believes in gods,
Trong thời đại không một ai tin vào thần linh,

MERRY: It’s meaningless even if one inherited the blood of god.
Thi chuyện có dòng máu của thần đi nữa thì cũng là số không.

RENKO: Yeah…
Ừ…

RENKO: Such a sad story…
Câu chuyện buồn thật…

MERRY: However, the moment she revealed the secret shut in her heart for decades
Thế nhưng, khoảnh khắc bà ấy tiết lộ bí mật ngủ sâu trong lòng trong suốt những thập kỉ qua,

MERRY: She might be able to live a little bit easier from now on.
Thì bà ấy sẽ nhẹ nhõm và sống bình yên hơn từ bây giờ thôi.

RENKO: I know one thing though…
Tớ biết một điều là…

RENKO: The recorded contents of this world in this book…
Nội dung của thế giới đều ghi chép trong quyển sách này…

RENKO: are the truth!
đều là sự thật!

RENKO: On the other hand, our understanding of this world…
Mặt khác, những gì chúng ta biết về thế giới này…

MERRY: is twisted!
đều sai lệch!

RENKO: Exactly!
Chính xác!

MERRY: It’s the annual fireworks display of the Suwa lake…
Là pháo hoa được bắn hằng năm ở bên hồ Tưu Phóng kìa…

RENKO: Uhm, such beautiful fireworks!
Ừ, đẹp thật đó!

MERRY: However, the truth hidden behind this beauty…
Tuy nhiên, những sự thật nằm sau vẻ đẹp này,

MERRY: Might possibly be something far more cruel than this vague beauty.
Chắc chắn là những điều đau lòng hơn cả vẻ bên ngoài của nó nữa.

RENKO: No matter if it’s beautiful or cruel
Dù đẹp đẽ hay tàn độc,

RENKO: Finding out the truth behind it
đi tìm bí mật đằng sau nó,

RENKO: is our role in the Secret Sealing Club!
là vai trò của Câu lạc bộ Phong ấn Bí mật của chúng ta!

MERRY: No matter if it’s beautiful or cruel
Dù đẹp đẽ hay đau lòng,

RENKO: We’ll keep on pursuing the truth!
chúng ta sẽ tiếp tục theo đuổi sự thật thôi!

MERRY: If there’s a chance someday, we must put our findings together in a book!
Nếu mà có ngày, chúng ta sẽ hệ thống những tìm hiểu của chúng ta vào một quyển sách đó!

RENKO: Yeah, well then, let’s start with thinking about Merry’s pen name!
Ừ, khi đó, hãy bắt đầu suy nghĩ bút danh của Merry thôi nào!

MERRY: Geez!
Cậu thật là!

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

YAYOI: How are you…
Em sao rồi,
YAYOI: Sanae…
Sanae?
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

MARISA: Reimu!
Reimu ơi!

MARISA: Reimu?
Reimu à?

REIMU: Uhm!?
Gì?

MARISA: What are you thinking about?
Cậu đang nghĩ gì đó?

REIMU: Nothing!
Không có gì đâu!

MARISA: Are you thinking about that why didn’t I turn up for even a moment?
Có phải cậu đang nghĩ là “Tại sao mình không xuất hiện dù chỉ một giây” có phải hơm?

REIMU: Don’t say that! Geez…
Đừng có nói nữa… Thiệt tình…

MARISA: Moreover, the protagonist is Sanae from the Moriya Shrine da ze~
Hơn nữa, nhân vật chính là Sanae của Thủ Thỉ Thần Xã mà daze~

MARISA: You lose~
Cậu thua rồi!

REIMU: Ugh! I can’t let it go!
Trời ơi!! Chịu không nổi nữa!!

REIMU: I wanna have my cool debut on the main storyline too!
Tớ chỉ muốn xuất hiện thiệt hoành tráng trong cốt truyện chính thôi mà!

MARISA: Aren’t you going to say things like “I’ll surely debut next time” this time?
Chẳng phải cậu sẽ nói mấy thứ như là: “Lần sau mình sẽ có đất diễn thôi” hả?

REIMU: Dunno if I’ll have my debut or not…
Chẳng biết là có đất để diễn hay không nữa…

REIMU: If I can’t become the protagonist, then no one could be!
Nếu tớ mà không làm nhân vật chính, thì người khác đừng hòng nghĩ đến chuyện đó!

MARISA: Huh?
Hở?

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.