蓬莱人形 ~ Dolls in Pseudo Paradise

zcds-0001

Nếu bạn mang bài viết này đi đến nơi khác, làm ơn hãy ghi lại credit và không chỉnh sửa bất kì thông tin nào. Xin cảm ơn

Đây là lần đầu tiên mình dịch cốt truyện trong CD của ZUN. Mình khuyên các bạn nên dành thời gian đọc thử, vì trong quá trình dịch thì mình thấy nó rất hay. Mình thấy theo xu hướng thì cứ nhiều chữ là lười hoặc là không muốn đọc. À thì… tốt nhất bỏ thói quen đó đi, biết đâu trong lúc đọc thì có gì đó thú vị thì sao? Cũng đáng mà. Và những tựa đề nhạc chỉ mang tính chất tương đối.

Ý kiến cá nhân thì mình thích nhất track Circus Reverie, The Legend of Hourai và cả Dichromatic Lotus Butterfly. Vừa nghe nhạc vừa thưởng thức nhé~~!

Sắp tới vì lí do công việc nên mình sẽ ít đăng bài hơn. Các bạn hãy thưởng thức cốt truyện này và nếu có lỗi sai nào thì hãy comment bên dưới, mình sẽ cố gắng chỉnh sửa trong thời gian sớm nhất. Mình sẽ trở lại mới một số bản dịch mà mình đã ấp ủ và ngâm giấm bấy lâu nay. Nhớ chờ nhe. Và, chúc mọi người một mùa Halloween vui vẻ~

This translation is based on Kafka Fuura’s English translation
Vietnamese translation was done by Petalite Yuu.


蓬莱人形 (Hourai Ningyou) ~ Dolls in Psuedo Paradise.
Hourai Dolls ~ Dolls in Pseudo Paradise
Bồng Lai Hình Nhân ~ Hình nhân tại Thiên đường Giả tạo

C62 Story // Press Version Story // Cốt truyện – Bản họp báo kì Comiket 62

僕ら正直村はもともと八人だけだったのだ。
全員で東の山に引っ越すことになって二年が経とうとして
いたんだ。正直退屈な毎日だった。
ある日、一人が桃の木の脇に小さな穴を発見した。
そう、それから僕らはこの楽園に迷い込んだのだ。
そして僕はさっそく、人間をやめた。

Chúng tôi – ở ngôi làng thật nhất, là một nhóm tám người.
Chúng tôi đã cùng nhau quyết định di chuyển đến ngọn núi phía Đông và dành thời gian ở đó hai năm. Mỗi ngày ở đó trôi qua, thật sự là, chán ngắt vô cùng.
Một hôm, một người trong nhóm chúng tôi tìm thấy một lỗ hỏng gần cây đào. Đúng vậy, từ thời điểm đó, chúng tôi đã lạc vào thiên đường.
Từ thời điểm đó, tôi không còn là con người nữa.

1.蓬莱伝説
Hourai Densetsu
The Legend of Hourai // Lịch sử của Bồng Lai

最も好奇心の高い僕は、先を急ぎ森の奥を目指した。
奥で謎のピエロに呼び止められ、なにやら嬉しそうに蓬莱
の玉の枝を手渡されたんだ。受け取ろうとしたら一瞬で首
と体が離れたようだ。僕は動くことも出来なくなっ
て、二度と仲間に会うことが出来なかった。
残りの正直者は七人になった。.

Tôi là người hiếu kì nhất trong nhóm, chạy đi đầu tiên và hướng mắt mình đến khu rừng sâu thẳm kia. Ở đó, tôi bị chặn lại bởi một chú hề. Chẳng hiểu tại sao nó lại vui vẻ trao cho tôi cành ngọc của Bồng Lai. Khi tôi vừa xòe tay ra đón lấy, ngay lập tức đầu tôi lìa ra khỏi cổ. Tôi không thể di chuyển và tôi không thể nào gặp được bạn bè mình nữa.
Và rồi, chỉ còn lại bảy người thật thà.

不死の薬は、あの始皇帝の使いですら見つける
ことが出来なかったというのに…
…蓬莱の玉の枝などみつかるものか。

Thần dược của sự bất tử không được tìm thấy ở đâu cả, kể cả những hầu cận của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng…
… Nhưng tôi tự hỏi là nếu bạn có thể tìm thấy cành ngọc của Bồng Lai đó không.

2.二色蓮花蝶 ~ Red and White
Nishoku Renkachou ~ Red and White
Bichromatic Lotus Butterfly ~ Red and White // Nhị sắc liên hoa điệp ~ Huyết và Bạch // Cánh bướm hoa sen hai màu ~ Đỏ và Trắng

朝は、池の上に紅と白の二色の巫女が踊っているのが見えた。
最も早起きな僕は、その無慈悲で過激な舞に長い間魅了さ
れていたんだ。やがて雨が降り始め、僕は我にかえった時、
もう巫女の姿は無かった。

Buổi sáng, tôi thấy một người vu nữ trong trang phục trắng và đỏ, đang thưởng thức điệu nhảy trên mặt hồ. Người dậy sớm nhất trong nhóm, tôi bị hút hồn bởi vũ điệu vô tình và tuyệt vời một lúc nào đó. Trời đổ mưa. Và khi tôi ý thức được điều đó thì cô vu nữ ấy đã biến mất.

また、変な人が紛れこんで来たみたいね。
神社まで来る前に何とかしないと…
あら、あの娘… 人間でも妖怪でもないみたい

Có vẻ như một kẻ lạ mặt đang ở trên lối đi.
Tôi nên làm gì đó trước khi bọn họ đến được ngôi đền…
Ah… cô gái đó… Cô ấy có vẻ không phải là người, cũng chẳng phải là yêu quái.

3.桜花之恋塚 ~ Japanese Flower
Ouka no Koidzuka ~ Japanese Flower
Lovely Mound of Cherry Blossoms ~ Japanese Flower // Anh hoa chi luyến trủng ~ Nhật Bản Hoa

雨は止むことを知らなかった。巫女はしっとりと全身を濡
らしたまま、雨に溶け込む様に消えていく。巫女に見とれ
ているうちに雨は恐ろしい嵐になり、最も美しいボクはピ
エロに捕らわれたのだ。そのままピエロは嵐の中に消え、
もう僕らの所へ帰る事は出来なかった。
残りの正直者は六人になった。

Cơn mưa này dường như không kết thúc. Người cô vu nữ ướt sũng; Lúc biến mất, cô ấy tựa như đang hòa mình vào trong mưa vậy. Khi tôi đang say đắm trước người con gái ấy thì cơn mưa bỗng hóa thành một đợt sét kinh hoàng. Và tôi, người đẹp nhất trong nhóm, bị tên hề bắt giữ. Tên hề biến mất trong tiếng sấm, tôi không thể trở về với mọi người nữa.
Và rồi, chỉ còn có sáu người.

あの桜の木の下には、今も*が眠っているのだろうか。
あんなに紅くなった花びらが、年々、薄くなっていく。
もう、土の中には何も残っていないのかも知れない。

Tôi tự hỏi lúc này, dưới gốc cây anh đào * có ai đó đang ngủ phải không.
Sắc đỏ trên cánh hoa qua năm tháng nay đã nhạt màu hơn rồi.
Chắc là, không còn gì dưới gốc cây đó nữa.

4.明治十七年の上海アリス
Meiji 17 (1884) Shanghai Alice // Alice Thượng Hải đời Minh Trị XVII

夜、六人は異国風のパーティを開催した。最も幼い僕はま
だお酒も阿片も飲めなかったのでひどく退屈だったんだ。
僕は一人でこっそりその場から抜け出したんだけど、暗闇
で不吉なピエロに捕まってしまったんだ。僕は、あっさり
首を切られた。もう退屈することも二度と出来なかった。
残りの正直者は五人になった。

Vào ban đêm, sáu người chúng tôi tổ chức một bữa tiệc hoành tráng. Tôi, vì là người trẻ nhất trong nhóm chưa thể uống rượu hoặc hút thuốc phiện, nên lúc đó thấy chán chường hết sức. Tôi một mình ra khỏi đó. Nhưng trong đêm tối, tôi bị tên hề xấu xa bắt lấy mình. Đầu tôi lìa khỏi xác thật dễ dàng. Tôi chẳng hề cảm thấy chán nản nữa.
Chỉ còn lại năm người mà thôi.

阿片の煙が雲と棚引き、町のあらゆる場所に流れ込ん
でいた。私は租界にいる。ワルツを踊る極彩色の衣装
の人々。ここにはその魔法が届かないわ。

Những đợt khói từ ống thuốc phiện có hình như những đám mây, bay vào trong thị trấn. Tôi sống trên mảnh đất được chuyển nhượng lại. Những người khoác trên mình những trang phục rực rỡ và thưởng thức điệu van, phép màu của họ không thể chạm đến tôi.

5.東方怪綺談
Touhou Kaikidan
Eastern Fantastic Tale // Đông Phương Quái Ỷ Đàm // Câu chuyện lãng mạn kì lạ ở phương Đông

僕は息が切れるまで走った。最も臆病な僕は、この楽園が
怖くなったのさ。この位予想していたことだけど、いくら
走っても帰り道を見つけることは出来なかったのだ。もう
僕の想い人も消えてしまっている、生きていても仕方が無
い、僕は失意の後に太い枝に縄を縛りつけ首を掛けた。
…僕はなぜか意識がある。縄が脆かったのか?…
最も臆病な僕は生まれ変わった。もう失うものは何も無い、
僕はもう一度だけ人間の真似をしてみることにしよう。

Tôi chạy cho đến khi muốn đứt cả hơi thở. Tôi, người nhát gan nhất trong đoàn, đã sợ hãi chốn thiên đường này. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Chạy càng xa, càng không thấy lối thoát ở đâu cả. Người mà tôi yêu quý nhất đã biến mất rồi; dù cho cô ấy có còn sống đi nữa, tôi cũng không thể làm được gì hết. Trong tuyệt vọng, tôi treo một sợi dây lên cành cây, sau đó thắt ngay cổ mình.
… Vì lí do nào đó, tôi vẫn còn tỉnh táo. Có lẽ sợi dây lỏng quá chăng?…
Tôi, kẻ hèn nhát nhất trong nhóm, được tái sinh. Không còn gì để mất, tôi quyết định sẽ vờ như mình là một con người một lần nữa.

「妖怪?いまどき非常識な。」
しかし、僕は知っている。妖怪達は、人間にそう
思わせとけば平和に暮らせるという事を。
妖怪は人間よりずっと平和で現実的だという事を。

“Yêu quái? Ngày nay nghe sao vô lí thật.”
Nhưng tôi biết: Nếu như bọn chúng để con người nghĩ thế, lũ yêu quái sẽ sống trong yên ổn.
Yêu quái sống yên bình và thực tế hơn con người nhiều.

6.エニグマティクドール
Enigmatic Doll // Hình nhân khó hiểu

目が覚めたら僕ら五人は暗闇に居たんだ。一人の言うこと
には、僕らは謎のピエロにさらわれたらしい。四人は幼稚
な脱出計画を立てている。最も聡明な僕は、止めとけばい
いのにと見ていたがとうとう口に出さなかったのだ。
四人の予定通り計画は実行され、一人の予想に反し成功に
終わったんだ。そして僕は永遠に逃亡出来なかった。
永い暗闇の中で暇を潰していると、すぐに後ろに気配を感じ
たが、身を任せた。熱いものが背中を伝った。

Khi thức giấc, xung quanh năm người chúng tôi là bóng tối. Một người trong nhóm bào là bọn tôi bị tên hề kì lạ đó trói lại. Bốn người còn lại cứ đề ra những kế hoạch trốn thoát hết sức ấu trĩ. Tôi, người thông thái nhất trong nhóm, thấy rằng tốt nhất là cứ ngồi yên ở đấy. Nhưng cuối cùng, tôi chẳng hề nêu ra ý kiến đó của mình.
Kế hoạch của bốn người đó được tiến hành. Kế hoạch đó trái với những dự đoán thành công của tôi. Nhưng tôi lại không thể nào thoát ra khỏi màn đêm này cả.
Khi đang giết thời gian trong bóng tối bất tận này, tôi cảm nhận một thứ gì đó ở sau lưng. Nhưng tôi đang vờ như mình không biết gì cả. Tôi thấy phía sau lưng mình có gì đó rất nóng.

ああ、この人形、どうにかして早く捨てたいのに。
だって、あの蒼い目。時折黒い鴉がくわえて持って
っちゃうのよ? あの目は本物の目よ。
いつも、私が新しい目を入れるんだから。

Ah, con búp bê này, tôi thật sự muốn vứt nó đi.
Sau tất cả, cặp mắt xanh lam đó. Đôi lúc có con quạ đen bay đến và mổ đôi mắt đó đi. Đó là thật. Tôi biết, vì tôi lúc nào cũng thay thế chúng cả.

7.サーカスレヴァリェ
Circus Reverie // Gánh xiếc ảo tưởng

僕らは見事脱出に成功したんだ。僕らは何て賢いんだろう
と感心し、楽園に見つけた住みかに帰ろうとした。
誰もお互いを疑う事なんて考えたことは無かったのさ。
みんな正直者だったんだ。みんな仲良しだったんだ…

Kế hoạch bỏ trốn của bọn tôi thành công. Cảm giác như những thiên tài vậy, và chúng tôi trở về nơi chúng tôi sinh sống tại thiên đường.
Chẳng ai nghi ngờ nhau cả.
Tất cả chúng tôi rất thật thà. Chúng tôi là những người bạn tốt của nhau.

さて、お次は鳥人間の登場だよ。
この鳥人間、なんと人間と、遥か南の国にしかいない
世にも珍しい、ゴクラクチョウとの間に生まれた子供だよ。
親はとっくに死んじまって、可哀想な孤児だったのを、
うちの劇団で助けてあげたって訳だ。えらいだろう?

Vậy, tiếp theo là điểu nhân nhé!
“Điểu nhân” chỉ tồn tại ở đất nước phương Nam xa xôi, dù cho ở đó rất hiếm, một đứa trẻ được sinh ra từ một chú chim của thiên đường. Cha mẹ đã mất từ rất lâu, và cậu bé ấy là một đứa trẻ cô đơn. Nhưng bọn tôi đã cứu nó đấy! Chẳng phải bọn tôi rất giỏi sao?

8.人形の森
Ningyou no Mori
Forest of Dolls // Hình Nhân Lâm // Khu rừng Búp bê

楽園は、僕らが住むにはちょうど良い建物を用意してくれた。
森の奥にある古びた洋館は、いつでも僕らを受け入れてく
れる。でもいつもなら大量に用意する食事も、いつもの
半分で済んだ。
正直者の僕らはいつのまにか半分になっていたのだ。

Thiên đường đã chuẩn bị cho chúng tôi một nơi thích hợp để dọn vào. Tòa dinh thự cũ kĩ mang phong cách châu Âu trong khu rừng này đã luôn chào đón chúng tôi. Nó luôn có đa dạng và đầy đủ các loại thức ăn, nhưng lúc này chúng tôi đã tiêu thụ được một nửa.
Khoan đã. Từ lúc nào chúng tôi chỉ còn nửa số người thế này?

雨が止まない。
がこの家に迷い込んでから、一度も太陽を見ていない。
もう何日経つんだろう。
人形はしきりに話し掛けてくる。
僕は、人形の首をはねた。雨が止んだかの様に見えた。

Cơn mưa chưa có dấu hiệu dừng lại
Từ lúc quanh quẩn trong ngôi nhà này, tôi chưa bao giờ được nhìn thấy mặt trời. Tự hỏi, đã bao nhiêu ngày trôi qua rồi?
Con búp bê bắt đầu nói chuyện với tôi.
Tôi vặn đầu của nó. Nhìn nó cứ như là cơn mưa đã tạnh rồi vậy.

9.Witch of Love Potion

Phù thuỷ của Thuốc giải Tình yêu

午後は、いつもお茶の時間と決めていた。いつもならただ
苦いだけの珈琲が、今日は僅かに甘く感じたんだ。
それが惚れ薬−Love Potion−入りだったとは…
最も大人びた僕は、美しきピエロに恋し幸福のままに眠り
に落ちた。
残りの正直者は三人になった。

Chúng tôi luôn thưởng thức trà chiều. Và cà phê thường ngày tôi hay dùng có vẻ ngọt hơn thì phải…
Co phải đây là li có -tình dược- không nhỉ?…
Tôi, người chững chạc nhất trong nhóm, đã phải lòng một tên hề xinh đẹp, và mãn nguyện rơi vào giấc ngủ.
Chỉ còn lại ba người.

まさかね。もちろん僕も馬鹿じゃない。
友達に言ったって笑われるだけさ。
あそこの店に惚れ薬が売ってたなんて。
だから僕は誰にも言わず豚の貯金箱を壊したのさ。

Đương nhiên là không, tôi không phải là kẻ khờ.
Tôi bị bạn mình cười nhạo khi nói ra điều đó.
Cửa tiệm ở đằng kia đang bán thuốc giải tình yêu đấy.
Và không nói ai cả, tôi đã đập vỡ ống tiền tiết kiệm.

10.リーインカーネイション
Reincarnation // Tái sinh

僕は明らかに毒で殺された仲間を見てしまったんだ。あれ
は自殺のはずがない。珈琲は僕が適当に選んで皆の部屋に
配ったんだからな。他の二人には彼の死を伝えなかった。
最も警戒心の強い僕は、自分で用意した食事以外は口に入
れなかった。他の二人が寝静まるまで必死に起きていた。
僕らは別々に部屋に入って鍵をかけた。そう僕は二人のう
ちある一人を疑っていたんだ。
どこからか、すぐ近くで木に釘を打つような音が響いて
いたんだ。一体どっちの仕業だろう? 暗闇の中恐怖に顔
が歪む。音に合わせ僕の手足が痛む。まるで五寸もある釘
で打たれたかのようだったんだ。霊媒師にでも相談しよう
とも考えたが、ある事に気付いてしまったんだ。
そうだった、僕が木に打ち付けられていて動けないんだ
った。どっちが僕を木に打ち付けているのだろうか?
そして最後の釘が眉間に当てられた。
そこには予想通りの顔が見えた。
声を出す間も無く、光は完全に途絶えた。

Tôi nhận thấy là một trong những người bạn của mình đã chết vì thuốc độc. Chắc chắn đó không phải là tự sát. Tôi là người đã chọn cà phê cho mọi người dựa vào khẩu vị của họ và mang đến tận phòng cơ mà. Tôi chưa kể cho hai người kia về cái chết này. Tôi là người kĩ lưỡng nhất trong nhóm; tôi không ăn bất cứ gì khác ngoài chính thức ăn mình nấu. Tôi thao thức trong tuyệt vọng cho đến khi hai người kia đã ngủ. Chúng tôi về phòng riêng và khóa chặt cửa. Đúng, tôi nghi ngờ hai kẻ còn lại.
Ở đâu gần đấy, tôi nghe có tiếng thứ gì đó bị đóng đinh lên cây. Ai đang làm chuyện này thế nhỉ? Tôi sợ hãi đến méo mặt khi tiến vào bóng tối. Thời gian và âm thanh hòa hợp với nhau, tứ chi của tôi bắt đầu nhói lên. Cứ như là có mấy cây đinh dài mười lăm centimet đóng vào vậy. Tôi tự hỏi có phải là mình nhầm không, nhưng khi nhận ra thì đã quá rõ ràng rồi.
Đương nhiên, tôi bị đóng đinh lên cây và không thể cử động được. Ai đang làm chuyện này thế nhỉ?
Khi tôi cảm nhận được chiếc đinh cuối cùng chuẩn bị vào trán mình.
Có lẽ, tôi đã thấy gương mặt của ai đó.
Trước khi tôi kịp thét lên thì ánh sáng trong mắt tôi…đã tắt rồi.

– interlude
– nghỉ giữa giờ

君は余りにも腑抜けだったのだ。
正直者が馬鹿を見るということが分からないのか?
こんな隠居暮らしで昔のあの鋭い感覚・・・・・・が麻痺したのか?
もう一度街の賑わい、富と快楽が恋しくないのか?
僕は、昔みたいに皆で盗賊団になって、もう一度人生やり
直したいだけだったのに。
一仕事終えた僕は、朝食の準備をし夜があけるのを待った。

Ngươi quả ư là một kẻ hèn nhát.
Ngươi không nhận ra rằng, thật thà chỉ khiến bản thân tìm đến số phận tàn nhẫn sao?
Có phải sự chạy trốn khỏi thế giới đã khiến những giác quan nhắc bén của ngươi tê liệt rồi không?
Có phải ngươi khát khao sống trong một thị trấn nhộn nhịp, sống trong giàu sang và hạnh phúc không?
Ta, trong quá khứ là một tên trộm, như những kẻ khác, chỉ muốn được sống lại
Sau khi xong chuyện, ta chuẩn bị bữa sáng, và chờ đợi bình minh vén đi màn đêm này.

そもそも、道の無い森の中に洋館が建ってるだけでも
不思議なのだ。あそこに住んでいた少女が滅多に街に
出てこない。でも、最近、彼女の娘らしき人を見た。
何で娘ってわかったかって?
そりゃ、あれだけ幼少時代の彼女に似ていれば…

Trước hết, tòa dinh thự kiểu Âu được tọa lạc tại một khu rừng, kì lạ thay khi không có lối đi nào dẫn đến nó cả. Cô gái sống ở đấy rất ít khi đến làng. Tuy nhiên, gần đây tôi đã thấy ai đó giống con gái của cô. Tại sao tôi lại bảo là con gái?
À thì, cô bé giống hệt cô gái ấy lúc nhỏ mà…

11.U.N.オーエンは彼女なのか?
U.N. Owen wa Kanojo na no ka?
U.N. Owen was Her? // U.N Owen là cô ấy sao?

最も早起きな僕の意識は、すでに虫の息だったんだ。今朝
のハムエッグに何か盛られてたんだろうな。なんて僕は頭
が悪いのだろう、二人になるまで全てが分からなかったな
んて。全部あいつの仕業だったんだ、気違いになった時点
で殺しておくべきだったんだ。
いずれにしても、もう遅すぎたな…
いつかの巫女が見えた気がした。僕の幻覚なのか?
それにしても髪の色はあんなブロンドだっただろうか。
僕の命と引き換えに、もうしばらく幻覚を見せて欲しいと
言う願いは、前者だけ叶ったようだ。

Khi đã ý thức được bản thân, tôi, người dậy sớm nhất, đã thấy cánh cửa của cái chết rồi. Có vẻ như, món trứng và thịt nguội sáng nay có gì đấy không ổn. Sao tôi ngốc thế nhỉ, không hề nhận ra điều gì khi chỉ còn lại ai người. Tất cả là lỗi của *, khi * tức giận, lẽ ra tôi đã nên kết liễu *.
Dù tôi có làm gì đó thì cũng đã quá muộn.
Tôi cảm giác mình thấy một người vu nữ, hay đó chỉ là ảo giác của tôi nhỉ?
Dù thế, mái tóc của cô vàng óng ánh đến thế sao?
Đổi lại mạng sống của tôi, ước gì mình đã thấy ảo ảnh đó lâu hơn một chút nữa. Có vẻ như điều ước đó đã ban cho ai đấy trước tôi rồi.

君は想像力にかけている。罠に落とそうと思えばわけはない。
U.N.オーエンほど想像力豊かな犯人なら、君の頚に縄を
まく事ぐらい朝飯前だろう。

Ngươi chẳng có trí tưởng tượng gì hết. Cứ như là ngươi muốn rơi vào bẫy lắm ấy. Nếu như thủ phạm là một người với sức mạnh giả tưởng của U.N. Owen, thì kẻ đó đã có đầu của ngươi trước bữa sáng rồi.

12.永遠の巫女
Eien no Miko
Eternal Shrine Maiden // Vĩnh viễn Vu nữ

あれから生まれ変わった僕は、昨日は夕食後、強烈な睡魔
に襲われたんだ。頭が割れる様に痛い。昨夜のことが何に
も思い出せない、永い夢を見ていたような気がする。目の
前の現実さえ見なければもっと良かったのに…
何てことだ、一人は珈琲に毒、一人は木に打ち付けられ
ていて、そしてもう一人は首をはねられて・・・・・・・いたなんて
僕は椅子と縄を用意し最後に呟いた。
最後に死んだとしたら、珈琲で死んだ奴しかありえない。
つまり、そういうことなのか?
そういうことなのだろう。
僕の夕食にも何か盛られていたようだな。
そんなことはもうどうでもいい、僕は一人だけなんだ。
もうこんな嘘つきだらけの世に未練など、無い。
今度は丈夫な縄を天井に縛り、僕は高い椅子を蹴った。
今度こそ、二度と体が地面に着くことは無かった。

そして正直者は全員消えた。

Tôi, người đã được tái sinh, sau bữa ăn tối qua đã rơi vào trạng thái buồn ngủ vô cùng. Đầu thì đau như búa bổ. Tôi chẳng thể nhớ đến chuyện gì đã xảy ra đêm qua, cứ như mình đã chứng kiến một giấc mơ rất lâu vậy. Nếu như tôi đã không cần phải đối diện với hiện thực lúc này đây…
Cái gì đây? Một người thì bị cà phê đầu độc, người kia thì bị đóng đinh lên cây, người kia nữa thì bị mất đầu…
Tôi thì thầm những điều cuối cùng và chuẩn bị cái ghế và một sợi dây. Người cuối cùng chắc hẳn phải uống phải cà phê có độc rồi.
Vậy, những chuyện này là sao?
Chắc hẳn là thế.
Có gì đó trong thức ăn của tôi đêm qua.
Nhưng chuyện đó có gì quan trọng? Giờ tôi chỉ có một mình.
Lần này, tôi thắt chặt sợi dây lên trần nhà, đá chiếc ghế ở dưới chân.
Chắc chắn lần này, cơ thể tôi sẽ không rơi xuống đất nữa.
Và rồi trong nhóm thật thà ấy, chẳng còn một ai.

今日も何事もない一日だった。
明日も何事もない事が約束されている。
ここには誰も来ない。人間も神も。
妖怪?ああ、毎日来るわ。

Hôm nay chẳng có gì xảy ra.
Ngày mai tôi chẳng có dự định gì cả.
Không ai đến đây, con người hay thần thánh.
Yêu quái? Ah, chúng nó đến mỗi ngày đó thôi.

13.空飛ぶ巫女の不思議な毎日
Sora Tobu Miko no Fushigi na Mainichi
The Strange Everyday of a Sky Flying Shrine Maiden // Mỗi ngày kì lạ của người Vu nữ bay lượn trên không

楽園の巫女は、いつもと変わらない平和な夏を送っていた。
ある夏の日、巫女の日記にはこう書かれていた。

八月○日
今日遭った出来事といえば、森の廃洋館のある方から歩
いてくる美しいブロンドの少女に遭ったこと位ね。その
少女をどこかで見たような気がしらけど、私はそんな瑣
末な事に頭を使おうとはしないの。その娘はいたずらに
舌を出しながらぺこりと頭を下げて、大笑いしながら楽
園の出口の方に向かっていったわ。変な娘ね。
そういえば、あの娘は正直者八人組の唯一の女の子だっ
たわね、そんなことはどうでもいいけど。
あーあ、今日もまた退屈な一日だったわ…

この楽園「幻想郷」から人間の数が八人ほど減り、七人の
遺体は無事妖怪たちに持っていかれた。幻想郷は正直者を
永遠に失った。ただの数値の変化だ。
そんなことは、大したニュースでも無い。

Cô vu nữ của thiên đường dành mùa hè của mình trong sự bình yên bất biến.
Vào một trong những ngày hè đó, cô ấy viết nhật kí của mình

“Ngày X tháng 8
Về tất cả mọi việc diễn ra hôm nay là tôi đã gặp được một cô gái tóc vàng bước ra từ tòa dinh thự châu Âu cũ kĩ trong rừng. Tôi có cảm giác mình đã thấy cô ấy đâu đó rồi, nhưng tôi chẳng muốn phí thời gian và chất xám của mình suy nghĩ về điều nhỏ nhặt đó. Nói đùa chút thì, cô gái lè lưỡi trêu tôi, cúi chào một cách thành kính với gương mặt tươi tắn và lên đường rơi khỏi nơi này. Kì lạ thật.
Đó là những gì tôi nghĩ. Cô gái đó là người nữ duy nhất trong số tám người thật thà. Nhưng điều đó chẳng quan trọng.
Ah… Hôm nay là một ngày chán nản nữa rồi.”

Ở thiên đường “Gensoukyou” này, số con người đã xuống còn tám, và bảy cái xác được lũ yêu quái an toàn tha đi. Gensoukyou đã mất đi nhóm người thật thà vĩnh viễn. À, đó chỉ là điều hay thay đổi thôi.
Đó không phải là tin tức đáng quan tâm.

最近、魔法だとか妖怪だとか今時無学なこという輩が
増えてきたな。嘆かわしい。

Gần đây, số người hay nói những điều mà không cần phải suy nghĩ như “Đó là ma thuật” hay là “Đó là do yêu quái làm đó” ngày càng tăng. Thật là mệt mỏi.

C62 Composer’s Greeting / Lời chào của người soạn nhạc tại C62

きっと始めましてZUNです。長い間創曲活動をしてきましたが、
うっかり音楽CDを出すことになりました。内容はというと、実
に時代に逆行しています、レトロラブなのです。特にいまの小洒
落たダンス系ゲームミュージックではなく、一昔前のストレート
なゲームミュージックが好きな方に最適です(狭)あと、全体的
に少女チックになっていますので、そういう趣味の方にも聴いて
もらいたいです。

これからも、東洋風と西洋風に、アンティークなオリジナル曲を
作曲していきたいと思っています。

ちなみに、このCDを聴くとなぜか安心できないものがあります。
それは、道を外れるとモノは安定しないからでしょう。
蓬莱人形は「癒さない系」CDなのかもしれません。首吊るし。

Tôi chắc đây là lần đầu tiên, thật hân hạnh quá, là ZUN đây. Tôi đã sáng tác nhạc khá lâu rồi, nhưng bây giờ tôi mới nghĩ đến việc làm một CD nhạc. Nội dung khá là khác so với thực tế, nghiêng về tình yêu cổ điển hơn. Chắc chắn đó không phải là một phong cách, một loại nhạc trong game nhảy, nhưng đó là một sự kết hợp tuyệt vời cho những ai thích những nhạc trong game từ lâu lắm rồi (tôi khá chắc trong số các bạn có đấy). Hơn nữa, tôi thấy nó hơi nữ tính với một số người có sở thích như vậy. Bạn cũng nên thưởng thức đi.

Từ bây giờ, có lẽ tôi sẽ tiếp tục sáng tác những giai điệu mang màu sắc phương Đông và Tây cổ điển.

Tiện thể, sẽ rất khó thưởng thức CD này khi bạn cảm thấy không thoải mái.
Đó là vì người khác (hoặc vật khác) rời khỏi con đường, chúng không thể an toàn tuyệt đối.
Hourai Dolls chắc hẳn là một CD khó để làm mới. Với tất cả những điều khác

2002.8.11 ZUN(正直村の隠し子、最も高所恐怖症な僕)
Illegitimate Child of the Honest Village, the Most Acrophobic of Them All.

2002.8.11 ZUN (Đứa con không hợp pháp của Làng Thật thà, Người sợ độ cao nhất trong Tất cả)

Press Ver. Composer’s Greeting // Lời chào của nhà soạn nhạc – Bản họp báo

おおよそ初めまして、ZUNです。このCDは、C62にて
発表したもののプレス版となっております。
曲自体は、かなり昔に創った曲ばっかなので今聴くと恥ずか
しいです。殆どが、自作のシューディングゲームで使用した
曲のアレンジとなっています。
一昔前の「アーケード世代のゲームミュージックらしさ」を
感じて頂ければ幸いです。

Thật hân hạnh khi gặp các bạn trong lần đầu tiên – là ZUN đây. CD này là phiên bản họp báo trong kì Comiket 62. Những bản nhạc trong CD là do tôi đã làm từ rất lâu rồi, nên khi nghe lại thấy ngại ngại sao ý. Đa số là những bản làm lại nhạc trong game bắn đạn của tôi.
Nếu như bạn có thể nhận ra cảm giác xa xôi của thời đại game giải trí khi nghe CD thì tôi sẽ rất vui đó.

また、日本を捨てて海外に飛び出そうとしている方にも、
是非聴いていただきたいです。

Thêm nữa, cho những ai đang quên đi Nhật Bản và ở nước ngoài, tôi khuyên các bạn cũng nên nghe nữa.

(Shanghai Alice Illusionary Orchestra)
 (Dàn nhạc Shanghai Alice Illusionary)
 上海アリス幻樂団 http://www16.big.or.jp/~zun/
 Music Composer / Arranger ZUN / Nhà soạn nhạc ZUN
Advertisements

One thought on “蓬莱人形 ~ Dolls in Pseudo Paradise

  1. Pingback: 墓標 || 凋叶棕 | Petalite Yuu

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s